Triệu chứng thuốc điều trị bệnh rối loạn thiểu năng tuần hoàn não 

Cơ chế gây thiếu máu não

15:19, Thứ Tư, 11-11-2015

Não bộ chỉ chiếm 2% trọng lượng cơ thể nhưng được cung cấp đến 15% khối lượng máu từ tim bóp ra, tiêu thụ 20% tổng lượng oxy trong máu và sử dụng đến 25% lượng glucose để sinh năng lượng cung cấp cho các tế bào thần kinh hoạt động. Vì vậy, nếu bị thiếu máu thì hoạt động thần kinh của não bộ sẽ bị suy giảm ngay, đặc biệt khi sự thiếu máu não này kéo dài trên 4 phút, các tế bào thần kinh này sẽ không thể phục hồi lại được.

 

TĂNG CƯỜNG MÁU LÊN NÃO

Não bộ chỉ chiếm 2% trọng lượng cơ thể nhưng được cung cấp đến 15% khối lượng máu từ tim bóp ra, tiêu thụ 20% tổng lượng oxy trong máu và sử dụng đến 25% lượng glucose để sinh năng lượng cung cấp cho các tế bào thần kinh hoạt động. Vì vậy, nếu bị thiếu máu thì hoạt động thần kinh của não bộ sẽ bị suy giảm ngay, đặc biệt khi sự thiếu máu não này kéo dài trên 4 phút, các tế bào thần kinh này sẽ không thể phục hồi lại được.

Khi bị thiếu máu não, thành mạch máu thường là nơi bị tổn thương đầu tiên, chính sự chuyển hóa liên tục nơi lớp nội mạc mạch máu mà rất nhiều gốc sinh ra tại đây, với đặc tính chuyên đi cướp electron của các nguyên tử khác, gốc tự do gây hại lên thành mạch bằng cách gây tổn thương cấu trúc tế bào thành mạch, dẫn đến sự hình thành của các mảng xơ vữa và các cục huyết khối, quá trình trên làm hẹp động mạch, gây thiếu máu não, cản trở máu vận chuyển oxy và dưỡng chất đến não, làm tế bào thần kinh thiếu năng lượng để hoạt động, ảnh hưởng tới hệ thần kinh.


Thiếu máu não cục bộ tạm thời (transient ischemic attack = TIA) là một loại thiếu máu não cục bộ, biểu hiện lâm sàng bởi sự xuất hiện đột ngột các triệu chứng thần kinh khu trú (theo khu vực của một động mạch nuôi dưỡng) như đau đầu, choáng, ngất, nhìn mờ, yếu tay chân... kéo dài không quá 24h, thường hay tái phát và là yếu tố nguy cơ dẫn tới nhồi máu não.
 

Thiếu máu não thường hồi phục hoàn toàn không để lại di chứng do thời gian thiếu máu ngắn, động mạch thường chỉ bị hẹp mà không bị tắc hoàn toàn, do các động mạch xung quanh có cấp oxy và dưỡng chất tạm thời cho vùng não bị thiếu máu.

CƠ CHẾ GÂY TMNTT

Gồm 2 cơ chế: Cơ chế huyết động và cơ chế vi tắc nghẽn mạch

Cơ chế huyết động:

Cơ chế huyết động giải thích cơn TMNTT bằng sự giảm khối lượng máu qua não đột ngột do các guyên nhân như: tụt huyết áp, suy tim, hẹp động mạch cảnh, loạn nhịp tim, hẹp hoặc chèn ép các động mạch trước não (động mạch cảnh trong, động mạch đốt sống)....

                           


Thoái hóa đốt sống cổ có thể là nguyên nhân chèn ép vào động mạch đốt sống. 
 
Cơ chế vi nghẽn tắc mạch:

Đây là cơ chế chủ yếu gây nên TMNTT, nhất là ở hệ động mạch cảnh trong – hệ động mạch chiếm vai trò quan trọng trong dẫn máu đi nuôi não. Do những cục tắc nghẽn nhỏ di chuyển từ các động mạch trước não, có thể từ tim hoặc từ các mạch máu khác ở ngoại vi lên não và làm tắc một nhánh náo đó của động mạch não, nhưng chỉ gây thiếu máu tạm thời ở khu vực đó, sau 1 thời gian ngắn, tuần hoàn não khu vực đó được phục hồi nhanh chóng, có thể do cục nghẽn được tiêu đi, di chuyển đi hoặc khu vực đó được các động mạch xung quanh cung cấp máu bổ sung.

          
 
Cục tắc nghẽn có thể là:

- Mảng xơ vữa động mạch: Thành phần chủ yếu là Cholesterol ở những người bị rối loạn mỡ máu, lượng cholesterol xấu trong máu tăng cao gây lắng đọng vào thành động mạch, làm hẹp thành động mạch, đặc biệt là động mạch cảnh trong. Dạng này không thể tự tiêu được.

- Cục máu đông hay cục huyết khối: vì dòng một nguyên nhân nào đó khiến máu chảy chậm (suy tim...), đông đặc (mất nước) hoặc tổn thương thành mạch (xơ vữa động mạch), làm tiểu cầu kết dính lại với nhau =>> tạo thành huyết khối trong lòng mạch. Huyết khối này có thể bám vào lòng thành mạch hoặc liên tục di chuyển trong lòng mạch và lớn dần lên, khi đạt tới một đường kính nhất định và lọt vào một vị trí hẹp của động mạch sẽ làm tắc động mạch tại vị trí này.

 

ĐIỀU TRỊ:
 

Bản thân cơn thiếu máu não cục bộ tạm thời (TMNCBTT) không điều trị cũng có thể tự hồi phục, nhưng nếu được điều trị kịp thời chắc chắn hồi phục triệu chứng sẽ nhanh hơn, vì vậy việc dùng thuốc tăng cường tuàn hoàn não để điều trị triệu chứng cũng rất cần thiết. Tuy nhiên quan trọng hơn là điều trị để hạn chế tái paht1 cơn khác và hạn chế hoặc ngăn chặn xảy ra nhồi máu não gây thiếu máu não vĩnh viễn (Tai biến mạch máu não)

Lượng máu lên não được đánh giá bởi 3 yếu tố:

 

- Huyết áp: Tim là động lực chính giúp đấy máu đi khắp cơ thể, trong đó có não, do đó, để lượng máu lên não ổn định cần phải kiểm soát huyết áp ổn định, không quá cao (gây co thắt mạch máu –một cơ chế bảo vệ tránh làm vỡ mạch máu não) hoặc quá thấp (không đủ áp lực để đẩy máu lên não do phải chống lại chính trọng lực của máu).
 

- Sự thông thoáng của lòng mạch: đây là mục đích trong điều trị TMNTT. Sự hẹp hoặc tắc lòng mạch tạm thời là nguyên nhân chính gây TMNTT, chủ yếu do mảng xơ vữa, huyết khối, đè ép từ bên ngoài ....

- Thành phần của máu: Đường và oxy là 2 chất được các tế bào thần kinh ưa thích sử dụng để sinh năng lượng cho các hoạt động của mình, vì vậy chúng ta phải đảm bảo các thành phần này phải duy trì ở mức hợp lý và đáp ứng đủ cho nhu cầu của tế bào não. Ngoài ra trong máu còn có các thành phần gây hại khác,đặc biệt là cholesterol là nguyên nhân chính gây xơ vữa động mạch, do đó cũng cần phải điều chỉnh để hạn chế các thành phần có hại này.


Mục đích và phương pháp điều trị: dựa trên 3 nguyên tắc điều trị trên, các bác sĩ sẽ đưa ra 4 điểm quan trọng trong việc tăng cường lượng máu lên não:

- Giải quyết tốt các nguyên nhân làm hẹp lòng mạch máu: Lả chủ đạo trong việc điều trị TMNTT, Dựa trên cơ chế bệnh sinh của tắc nghẽn mạch trong TMNTT, người ta dùng thuốc chống đông với mục đích đề phòng tạo thành những cục huyết khối mới và ngăn chặn sự tiến triển những cục huyết khối đã có hoặc giúp bệnh nhân kiểm soát mỡ máu, hạn chế hình thành mảng xơ vữa; điều trị thoái hóa đốt sống cổ.... Ngày nay, phẫu thuật đã được chỉ định rộng rãi do tiến bộ của khoa học kĩ thuật giúp giải quyết triệt để nguyên nhân của TMNTT khi có hẹp trên 70% động mạch cảnh trong.


+ Heparin: Cơ chế chống đông của Heparin là tác dụng chống đông máu cả trong và ngoài cơ thể thông qua tác dụng lên antithrombin III (kháng thrombin). Thrombin là một enzym trong cơ thể có tác dụng hoạt hóa tiền chất fibrinongen thành các sợi fibrin, thành phần quan trọng trong hạt huyết khối. Sở dĩ sử dụng heparin ở BN có mảng xơ vữa là do khi mảng xơ vữa bị bong 1 phần hoặc toàn phần, lộ ra phần mạch tổn thương ở bên dưới, tạo điều kiện cho hình thành huyết khối, do vậy phải sử dụng heparin trong thời gian dài để dự phòng hình thành huyết khối. Thường sư dụng trong vòng 1-3 tháng rồi bác sĩ điều trị đánh giá lại thông qua các xét nghiệm đông máu.
 

+ Kháng vitamin K: vitamin K là một loại vitamin quan trọng trong quá trình đông máu, là một trong 12 yếu tố đông máu của huyết tương, do đó khi sử dụng thuốc kháng vitamin K các bác sĩ sử dụng với mục đích dự phòng chống hình thành huyết khối là chính

+ Aspirin: Sử dụng liều thấp không quá 300mg/ngày. Có tác dụng chống kết dình tiểu cầu theo cơ chế sau

Aspirin ức chế men Cyclo-oxegenaza dẫn đến ức chế tạo thành chất thromeboxane A2, là một chất prostaglandin làm kết dính tiểu cầu. Nhưng nếu dùng liều cao thì aspirin lại ức chế cả chất prostaglandin được sinh ra từ tế bào nội mạc động mạch mà chất này lại có tác dụng chống kết dính tiểu cầu. Vì vậy mà không dùng liều cao hơn 300mg/ngày.

Thời gian sử dụng liên tục từ 3-6 tháng. Chú ý chống chỉ định của thuốc và theo dõi đề phòng các tai biến có thể xảy ra.

Ngoài ra, bác sĩ còn phải kiểm soát mỡ máu của bệnh nhân (không hình thành các mảng xơ vữa mới hoặc hạn chế tăng kích thước mảng xơ vữa cũ), điều trị các nguyên nhân chèn ép mạch máu như thoái hóa đốt sống cổ.

- Đảm bảo tốt chức năng của tim mạch: Bệnh nhân cần được duy trì ở một mức huyết áp ổn định, không để huyết áp trung bình quá thấp hoặc quá cao. Kiểm soát tốt huyết áp giúp cho lượng máu lên não bệnh nhân ổn định, lượng oxy và dưỡng chất cung cấp cho não hoạt động tốt. Cần tránh các hoạt động mạnh, thay đổi cảm xúc đột ngột làm tăng huyết áp (tạo điều kiện cho bong các mảng xơ vữa, co thắt mạch máu ... gây TMNTT).

Một số thuốc kiểm soát tốt HA: (nếu cẩn em sẽ viết thêm)

- Kiểm soát lượng oxy trong máu: Bệnh nhân cần được sinh hoạt trong các môi trường thông thoáng , đầy đủ oxy.

- Dinh dưỡng: ăn uống đầy đủ, chế độ ăn hợp lí: giúp cải thiện dinh dưỡng trong máu, giảm các thành phần độc hại (đặc biệt là cholesterol), giúp não hoạt động tốt và hạn chế mảng xơ vữa

Ginkgo biloba chiết suất từ cao bạch quả đang là trọng tâm nghiên cứu của các nhà khoa học trên thế giới do có tác dụng tốt trong tăng cường tưới máu não do tác động vào cả 4 điểm quan trọng trong tăng cường tưới máu lên não.

Tài liệu tham khảo:

- Embolization Therapy: Principles and Clinical Applications – Edition 2015 by Marcelo Guimaraes MD FSIR

- Clinical Neurophysiology - Third Edition – Daube, Jasper R. MD, Professor of Neurology

- Bệnh học nội khoa tập I DHYHN – Tai biến mạch máu não tr.479 – BS Hồ Thị Kim Thanh

-Bệnh học thần kinh SĐH HVQY – Thiếu máu não cục bộ tạm thời tr.22 – BS. Nguyễn Xuân Thản

Tham khảo thêm :
Thuốc hoạt huyết dưỡng não

 
thieumaunao.vn 


Videos

Hỗ trợ trực tuyến

Miền Bắc

043.668.6111

yahoo

Miền Nam

083.868.2186

vinastar01

Hỏi và đáp Gửi câu hỏi

Thưa bác sĩ, tôi năm nay 38 tuổi tôi bị huyết áp thấp khoảng 4 năm trở...

Chào bạn, Huyết áp thấp là một bệnh lý thường gặp, xuất hiện...

Em năm nay 25 tuổi. Em bị mất ngủ khoảng gần tháng nay,đêm nằm trằn trọc...

Chào bạn, 90% người mất ngủ kinh niên( mất ngủ trong thời gian dài) là...

Chị bị mất ngủ trắng đêm đã 7 tháng nay. Cháu có đi khám bác sĩ bão là...

Chào bạn, giấc ngủ rất quan trọng đối với cơ thể nhưng bạn hay bị...

Xem thêm